Những thành tựu nổi bật của đất nước sau 40 năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp đổi mới
Sau bốn thập kỷ kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới tại Đại hội VI (1986), đất nước ta đã đạt được những thành tựu vĩ đại, toàn diện trên mọi lĩnh vực, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển của dân tộc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhân dân ta đã biến khát vọng phát triển thành hiện thực, đưa Việt Nam từ một quốc gia lạc hậu, thu nhập thấp trở thành một trong những nền kinh tế năng động và hội nhập sâu rộng trên bản đồ thế giới.
Một trong những thành tựu rõ rệt nhất là sự nghiệp đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo ra cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế chưa từng có.
Nền kinh tế chuyển đổi thành công sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một đột phá về tư duy lý luận và thực tiễn. Quy mô nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc. Từ một quốc gia nông nghiệp nghèo nàn với GDP chỉ khoảng 26,3 tỉ USD đầu thập niên 1980, đến năm 2024 GDP Việt Nam đã đạt 476,3 tỉ USD, năm 2025 đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới.
Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 6%/năm; giai đoạn 2021 – 2025 đạt 6,2%. Ở nhiều thời kỳ, GDP tăng trưởng bình quân 7%/năm, trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng ấn tượng nhất khu vực Đông Nam Á. GDP bình quân đầu người tiếp tục tăng nhanh, năm 2020 đạt 3.586 USD; năm 2022 – 4.109 USD; năm 2023 – 4.323 USD; năm 2024 – 4.700 USD, năm 2025- 5026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra.
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nếu năm 1986 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP, đến nay khu vực dịch vụ và công nghiệp đã trở thành động lực chính, đóng góp phần lớn vào tăng trưởng kinh tế. Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ hơn 40% xuống dưới 15% GDP, trong khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Điều này không chỉ chứng tỏ cơ cấu ngành tiến bộ, sự phát triển cân bằng của các ngành mà còn giúp tạo ra hệ thống ngành nghề đa dạng, thúc đẩy năng suất lao động và tăng khả năng cạnh tranh quốc tế. Ngoài ra, tại Việt Nam đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp…
Trên bình diện quốc tế, thành tựu nổi bật của 40 năm đổi mới là sự hội nhập sâu rộng, chủ động và tích cực vào nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia trên 17 hiệp định thương mại tự do, mở rộng cánh cửa cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Việt Nam không còn là nền kinh tế bị bao vây, cô lập, mà ngày càng trở thành đối tác tin cậy trong các cấu trúc kinh tế khu vực và quốc tế. Nước ta đã trở thành một trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và là điểm đến hấp dẫn của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Thành tựu kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội. Nhờ tăng trưởng bền vững, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc trước thời hạn, đặc biệt là trong giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% vào đầu thập niên 1990 xuống còn 1,1% vào năm 2025, là hình mẫu thành công về giảm nghèo theo đánh giá của Liên Hợp quốc. Chỉ số Phát triển Con người (HDI) liên tục được cải thiện, đạt mức cao so với các nước cùng trình độ phát triển, phản ánh tiến bộ về giáo dục, tuổi thọ và chất lượng sống của người dân. Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam tăng 48 bậc, từ vị trí thứ 94/149 quốc gia năm 2016, lên vị trí 46 năm 2025.
Giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên đầu tư và cải cách mạnh mẽ. Việt Nam đã phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2017, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục đại học và đào tạo nghề. Học sinh Việt Nam đạt thành tích cao trong các kỳ thi quốc tế như PISA, Olympic Toán, Lý, Hóa. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung tâm đào tạo nghề được mở rộng, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế đang chuyển dịch sang công nghiệp và dịch vụ.
Hệ thống y tế được củng cố từ tuyến cơ sở đến trung ương. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế năm 2025 đạt trên 95%, giúp người dân tiếp cận dịch vụ y tế với chi phí hợp lý. Các chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền đối ngoại Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, trở thành trụ cột quan trọng trong bảo vệ và phát triển đất nước. Quan hệ ngoại giao được mở rộng với hầu hết các quốc gia trên thế giới, góp phần tăng cường vị thế và tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc, tiểu vùng Mekong, APEC, AIPA, IPU, UNESCO, các Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP), Diễn đàn cấp cao Vành đai và con đường… Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 2008-2009, nhiệm kỳ 2020-2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 2014 – 2016, 2023-2025, và vừa được tín nhiệm tái đắc cử nhiệm kỳ 2026 – 2028, Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023-2027… Về tham gia các lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 1.000 lượt sĩ quan quân đội, công an triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị đi làm nhiệm vụ tại châu Phi và Trụ sở Liên hợp quốc ở New York; cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Myanmar.
Công tác bảo tồn di sản văn hóa được quan tâm. Hiện Việt Nam đã có 8 di sản thế giới, 15 di sản văn hóa phi vật thể, 9 di sản văn hóa tư liệu, 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 3 công viên địa chất toàn cầu UNESCO và các danh hiệu khác như thành phố sáng tạo, thành phố học tập toàn cầu. Công nghiệp văn hóa phát triển mạnh.
Về quốc phòng, an ninh, đất nước đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc. Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả đột phá, là nhiệm vụ then chốt. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện. Tăng cường và mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Hệ thống chính trị tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Công cuộc sắp xếp lại giang sơn do Đảng lãnh đạo thể hiện tư duy chiến lược và tầm nhìn trăm năm, mà nhờ đó, chúng ta có “Đội ngũ chỉnh tề, hàng lối ngay ngắn, cả dân tộc cùng hành quân vươn tới tương lai rực rỡ của đất nước” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm nhận định.
Sau 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo kiên định, sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã vươn lên mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực: kinh tế phát triển nhanh, hội nhập quốc tế sâu rộng, xã hội ổn định – tiến bộ, Nhân dân ngày càng ấm no – hạnh phúc. Thành tựu này không chỉ là minh chứng cho đường lối đổi mới đúng đắn mà còn kiến tạo một cơ đồ vững chắc để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
